Xây dựng một giao dịch (P2)

Đăng bởi

Để xây dựng một đồ thị giá trong Excel rất dễ nhưng tối thiểu bạn phải có các mức giá mở cửa, giá đóng cửa, giá cao nhất và giá thấp nhất. Tiếp theo sắp xếp các dữ liệu từ xa nhất đến gần nhất theo thời gian, sau đó đánh dấu các ô tương ứng và chọn loại đồ thị từ danh mục có sẵn.

bien do dao dong trong chung khoan

Để xây dựng một bảng tính để phân tích giá cổ phiếu, chỉ cần lấy bộ dữ liệu được tải về và dán trực tiếp vào trong một bảng tính đã được thiết kế sẵn các bảng biểu, các cột khác sẽ thực hiện các tính toán thống kê.

Các dữ liệu được nhập vào các ô đã đánh dấu sẵn. Các cột khác sẽ tự động cập nhật và bảng tính sẽ tự tính toán, và ngay lập tức đưa ra các kết quả. Hãy để các cột sau đây theo thứ tự:

Ngày tăng hoặc giảm so với giá mở cửa: Một hàm IF thể hiện chênh lệch của giá đóng cửa và giá mở cửa sẽ trả về số 1 nếu như đang là ngày tăng điểm và -1 nếu đây là ngày giảm điểm.
Nếu giá đóng cửa lớn hơn giá mở cửa thì khi đó giá tăng và ngược lại. Việc trả về số 1 và -1 sẽ giúp xác định chuỗi ngày tăng điểm hoặc giảm điểm ở cột sau.

Số ngày tăng liên tục: Hàm IF yêu cầu nếu cột G bằng 1 thì khi đó hãy thêm nó vào giá trị kế tiếp trong cột H, nếu không thì sẽ trả về số 0. Đối với ô H3, nếu ô G3=1 thì khi đó cộng H4 và G3, và sẽ trả về số 2 trong trường hợp này, nếu không sẽ trả về 0. Cột này được dùng để tính độ dài của các đợt tăng giá.

Số ngày giảm liên tục: Sẽ tương tự đối với trường hợp trên nhưng hàm IF sẽ không đếm số 1 mà sẽ đếm số -1 để thể hiện số ngày giảm giá. Ví dụ như đối với ô I5, nếu ô G5=-1 thì khi đó sẽ cộng G5 và I6, trong trường hợp này sẽ là -2. Cột này được dùng để tính độ dài của các đợt giảm giá.

Vượt mức giá cao nhất hôm trước: Sẽ sử dụng hàm IF để kiểm tra nếu như mức giá cao nhất trong ngày đang cao hơn mức giá cao nhất của ngày hôm trước. Nếu vậy thì sẽ trả về số 1 nếu không thì sẽ để trống.

Vượt mức giá thấp nhất hôm trước: Tương tự như cột “vượt mức giá cao nhất hôm trước” nhưng được dùng để kiểm tra liệu mức giá thấp nhất ngày hôm trước có thể bị phá vỡ hay không.

Tổng số lần phá vỡ các ngưỡng cao nhất và thấp nhất hôm trước: Các ô của cột này được tính bằng tổng của hai cột trước để tìm những ngày mà mức giá cao nhất và thấp nhất ngày hôm trước đều bị phá vỡ.

Ngày giao dịch trong biên độ: Kiểm tra xem liệu ô “Tổng số lần phá vỡ các ngưỡng cao nhất và thấp nhất hôm trước” bằng 0 bằng cách sử dụng hàm IF. Nếu cột L=0 thì khi đó trả về 1 nếu không sẽ để trống.

Ngày cả mức giá cao nhất hoặc thấp nhất hôm trước bị phá vỡ: Một hàm IF khác sẽ được dùng đối với ô “Ít nhất mức giá cao nhất hoặc thấp nhất hôm trước bị phá vỡ” ở cột L để xem liệu cả mức giá cao nhất và thấp nhất ngày hôm trước có bị phá vỡ hay không. Nếu ô “Tổng số lần phá vỡ các ngưỡng cao nhất và thấp nhất hôm trước”= 2 thì khi đó trả về 1, còn nếu không sẽ để trống.

Hình B.9 là trường hợp mở rộng của hình B.8, khi các thống kê còn lại được tính toán. Chú ý rằng các cột từ G đến N vẫn là một phần trong bảng tính, nó chỉ bị giấu đi để đơn giản bảng tính thôi.

Mức thay đổi giá mỗi ngày: Đây là giá trị tuyệt đối của chênh lệch giữa mức giá đóng cửa hôm nay và mức giá đóng cửa ngày hôm trước.

Khoảng dao động giá: Đây là chênh lệch giữa mức giá cao nhất và mức giá thấp nhất trong ngày, đồng thời thể hiện độ dày của các mức giá trong ngày giao dịch.

Mức giá cao – mức giá mở cửa: Đây là mức chênh lệch giữa mức giá cao nhất trong ngày và mức giá mở cửa trong ngày.

Mức giá mở cửa = mức giá cao nhất: Hàm IF được sử dụng để so sánh mức giá mở cửa và mức giá cao nhất trong ngày. Nếu bằng nhau thì nó sẽ trả về 1, nếu không sẽ trả về số 0 hoặc để trống.

Mức giá mở cửa – mức giá thấp nhất: Đây là mức chênh lệch giữa mức giá mở cửa và mức giá thấp nhất trong ngày.

Mức giá mở cửa = mức giá thấp nhất: Hàm IF được sử dụng để so sánh mức giá mở cửa và mức giá thấp nhất trong ngày. Nếu bằng nhau thì nó sẽ trả về 1, nếu không sẽ trả về số 0 hoặc để trống. Những thứ duy nhất còn lại để xây dựng là các thống kê tóm tắt ở hình B.10. Trong phần nội dung chính, tôi chỉ trình bày cho các bạn các hình chụp nhưng một lần nữa, chúng ta sẽ thực hiện lại từng bước.

Mức thay đổi giá trung bình: Đây là trung bình của khoảng dao động hằng ngày sử dụng hàm Average trong Excel.

Mức tăng/giảm trung bình trên dưới mức giá mở cửa mỗi ngày: Đây là trung bình của cột thể hiện chênh lệch giữa mức giá cao nhất/thấp nhất đối với mức giá mở cửa. Nó thể hiện trung bình giá thay đổi bao nhiêu so với mức giá mở cửa ở các khoảng thời gian nhất định (ngày, tuần, tháng).

Xác suất phá vỡ mức giá cao nhất/thấp nhất hôm trước: Tổng của một cột để tính toán số lần mức giá cao nhất hoặc thấp nhất bị phá vỡ trong tháng đó. Đây là cột tổng của cột: “Phá vỡ mức giá cao nhất?” hoặc “Phá vỡ mức giá thấp nhất?” Sau đó nó được chia cho cột tổng quan sát để xác định tỷ lệ phần trăm.

Tổng số lần phá vỡ mức giá cao nhất hoặc thấp nhất: Lấy tổng số ngày mà hoặc mức giá cao nhất hoặc mức giá thấp nhất đều bị phá vỡ chia cho tổng số ngày quan sát.

Xác suất ngày giao dịch trong biên độ: Lấy tổng số lần mức giá cao nhất hoặc thấp nhất ngày hôm trước bị phá vỡ chia cho tổng số ngày quan sát.

Xác suất cả mức giá cao nhất và thấp nhất đều bị phá vỡ: Lấy tổng số ngày mà mức giá cao nhất và thấp nhất đều bị phá vỡ chia cho tổng số ngày quan sát.

Xác suất mức giá mở cửa là mức giá cao nhất/thấp nhất hôm trước: Để là xác suất mà mức giá mở cửa sẽ là mức giá cao nhất hoặc thấp nhất trong giai đoạn thời gian xem xét. Nó được tính bằng số ngày mà mức giá mở cửa bằng mức giá cao nhất hoặc thấp nhất hôm trước chia cho tổng số ngày quan sát.

Trong chương 3, chúng ta đã xem xét qua việc sử dụng hàm COUNTIF để tính tổng số lần xảy ra các sự kiện theo điều kiện (ví dụ là có bao nhiêu lần mức giá tăng hơn 0,25 đô la so với mức giá mở cửa). Tất cả các thống kê khác được xây dựng bằng cách sử dụng hàm COUNTIF đối với cột “Mức giá cao nhất – mức giá mở cửa” hoặc cột “Mức giá thấp nhất – mức giá mở cửa” .

Đồ thị thể hiện xu hướng trong hình B.10 cũng dùng hàm COUNTIF theo cách tương tự ngoại trừ việc nó đang sử dụng dữ liệu của cột Độ dài chu kỳ tăng/giảm giá và đang kiểm tra độ dài được xác định ở đầu dòng.
Hình B.10 Ví dụ về
tóm tắt các thông số thống kê của cổ phiếu.
Thế thôi, vấn đề bây giờ chỉ còn là việc lựa chọn các khung thời gian cần phân tích (dữ liệu ngày hay tuần hay tháng) và nhập các dữ liệu từ trang Yahoo! Finance vào trong các bảng tính này. Sau khi đã được trang bị với các công cụ thống kê, bây giờ chúng ta đã bắt đầu có thể xem xét các cổ phiếu để xem liệu có những cơ hội đầu tư xuất hiện hay không thôi.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s